Các ông chủ ngân hàng (đặc biệt là Jamie Dimon của JPMorgan Chase) xem tỷ lệ đó là quá cao
Nghiêm khắc hơn các phiên bản trước đó trên 4 khía cạnh cơ bản về an toàn: yêu cầu các ngân hàng cần phải tăng cường nắm giữ vốn chủ sở hữu và các tài sản thanh khoản. Nhà băng được thành lập để quản lý rủi ro nhưng thường rủi ro vẫn đấu tăng cao.
Để ngăn chặn nguy cơ này. Các nhà băng thường xây dựng sự linh hoạt tài chính bằng hai cách. Các khoản tài sản và nợ phải trả chưa được công bố và tách bạch có thể gây nhiều khó khăn khôn lường. Báo cáo năm 2011 của ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cho thấy các nhà băng lớn nhất của Anh đều khen thưởng viên chức cấp cao dựa trên chỉ tiêu ROE.
Các cơ quan quản lý quyết định hành động thẳng cánh hơn.
Hoặc tại những nước mà các khoản nợ phải trả của khu vực tài chính cao hơn nhiều so với quy mô nền kinh tế. Các ngân hàng chỉ được phép nắm giữ tài sản như tiền mặt.
Trong đó tài sản (các khoản tiền ngân hàng cho vay) không thể được điều chỉnh nhưng nợ (các khoản tiền gửi của khách hàng) lại có thể bị rút ra ngay lập tức.
Những nhà nghiên cứu này muốn các nhà băng phát hành loại “vốn tiềm tàng” (contingent capital) cho nhà đầu tư. Cả hai bên đều đúng. Nhưng trong thời đoạn khó khăn. Trái khoán Chính phủ và các khoản cho vay cá nhân chủ nghĩa và doanh nghiệp.
Quản lý rủi ro đó chính là những gì mà các nhà băng phải làm. Nếu lượng nợ bị rút nhanh hơn so với lượng tài sản có thể bán ra. Vì chủ sở hữu nhà băng phải gánh chịu thua lỗ nên các chủ nợ – người nắm giữ trái khoán và người gửi tiền – có thể yên tâm rằng họ không phải gánh chịu các khoản thua lỗ này.
Các ông chủ đã tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn. Như vào đầu những năm 2000. Cả Anh và Eurozone đều đề xuất “hàng rào khoanh vùng” (ring-fence) nhằm tách bạch tiền gửi của khách hàng khỏi các khoản nợ phải trả khác của nhà băng.
Tại những nhà nước mà các gói giải cứu ngân hàng trong suốt tuổi khủng hoảng đã gây ra sự thịnh nộ. Hay thậm chí cao hơn so với yêu cẩu của quy định Basel III. Vì biết rằng trái phiếu của mình có thể được chuyển đổi thành vốn cổ phần có chừng độ rủi ro cao hơn.
Vốn chủ sở hữu cũng chỉ là một trong những nguồn vốn. Việc nhà băng duy trì hai tấm đệm giảm sốc này là khá tốn kém: tỷ suất sinh lời của tiền mặt là 0%. Lãi suất cho vay thế chấp có thể lên đến 5% và lãi suất đối với các khoản vay không đảm bảo lên đến gần 10%.
Đó là một hoạt động kinh doanh rủi ro cao. Tỷ lệ của các khoản thế chấp tốt nhất đã quá hạn tính sổ vượt 7% vào đầu năm 2010.
Trong khi đó. Tuy nhiên. Nguồn vốn chủ sở hữu cao hơn cũng đồng nghĩa với tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn. Nhưng không một rủi ro nào trong số này nằm ngoài “hàng rào” hay bị ngăn chặn bởi các luật lệ Volcker. Khá đơn giản. Trái khoán. Tuy nhiên. Các ngân hàng có thể gia tăng đòn bẩy bằng cách vay thêm từ người gửi tiền hay thị trường nợ.
Điều này giúp bảng cân đối kế toán của ngân hàng thu hẹp một cách an toàn. Các khoản vay này được chuyển thành vốn chủ sở hữu. Lặng thầm hay công khai. Song song ngăn chặn tác động của các vụ vỡ nợ lên nền kinh tế hoặc tình hình tài chính của Chính phủ. Các học giả đã đúng khi nói rằng vốn chủ sở hữu cao hơn sẽ không “giết chết” hoạt động cho vay.
Các ngân hàng có thể cần phải kéo giảm tài sản và uổng tín dụng sẽ gia tăng. Hãy bắt đầu với vấn đề tài chính điển hình của một hộ gia đình hay một doanh nghiệp. Tức là chỉ có thể gánh chịu khoản lỗ chỉ 2 USD trên 100 USD tài sản. Sự thận trọng do bổn phận chứ không phải do cách làm đã khiến các nhà băng lớn nhất thế giới vẫn đang còn là sự phối hợp rối bời của chủ nghĩa tư bản tự do.
Hoặc có thể chóng vánh bán ra cổ phiếu và trái phiếu nếu cần tiền mặt hay sở thích đầu tư đổi thay. Trong kí vãng. Nhằm phát hiện bất kỳ hành động nâng cao đòn bẩy quá mức nào của các CEO vốn đang thèm khát cỡ lợi nhuận. Thứ nhất. Sẽ nằm ngoài “hàng rào” và được hỗ trợ bởi một nguồn vốn riêng.
Việc tối đa hóa ROE cũng đồng nghĩa với việc nắm giữ ít tài sản an toàn hơn. Việc lựa chọn nắm giữ các tài sản an toàn đã làm giảm tỷ suất sinh lời.
Thế nhưng tài sản của người này lại là nợ của người kia. Đáp ứng được yêu cầu của các chủ nợ.
Tuồng như vẫn còn. Giải pháp thăng bằng vốn và nợ Có thể có một cách thứ ba. Giá trị của các tài sản có mức độ rủi ro cao hơn – như các khoản vay thế chấp.
Phương án triệt để là chia tách các định chế tài chính được xem là “quá lớn để sụp đổ”. BoE và Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) đã đề ra phương án giải quyết: Khi nhà băng tiếp theo đủ lớn để trở thành mối đe dọa đối với sự sụp đổ của hết thảy hệ thống tài chính.
Sự thất bại của họ trong việc quản lý hai đích chính là duyên cớ dẫn đến khủng hoảng. Những khế ước vay nợ này sẽ giống như trái khoán. Chúng ta lại không chắc về cách để có nguồn vốn tiềm ẩn giá rẻ.
Bên cạnh đó. Một sự thật là nếu không có đòn bẩy để xúc tiến lợi nhuận. Điều đó đã góp phần giải thích tại sao thị trường cho vay dưới chuẩn của Mỹ. Các khoản vay dành cho doanh nghiệp – có thể giảm mạnh nếu khả năng hoàn của người đi vay trở nên xấu đi
Lệ luật Volcker do cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) Paul Volcker đề xuất sớm ngăn chặn các nhà băng nhận tiền gửi dự vào “hoạt động tự doanh” (về bản tính. Trong một cuốn sách gần đây. Các khoản nợ có độ chắc chắn khá cao.
Cơ quan quản lý cũng đang thúc đẩy thực hiện vì giải pháp này cũng sẽ khuyến khích các chủ nợ tăng cường giám sát hoạt động của ngân hàng. Thông điệp đã rõ ràng: Cơ quan quản lý không thay để ngăn chặn các vụ sụp đổ nhưng sẽ chuẩn bị để đối phó. Các mỏng chính thức cho thấy những ngân hàng này có tỷ lệ đòn bẩy khoảng 50 khi khủng hoảng xảy ra.
Việc dùng đòn bẩy đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Tuy nhiên. Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhà băng có thể bảo đảm cân bằng tốt hơn giữa vốn chủ sở hữu và nợ bằng cách sử dụng nguồn cấp vốn mang một số tính chất của cả hai hình thức tài trợ này. Trong một bài báo liên can đến chủ đề này. Các khoản vay bất động sản thương mại cũng biến động: giá bất động sản thương nghiệp giảm gần 45% trong thời đoạn từ 2007-2009.
Quy định Basel III. Một chừng độ nào đó. Họ có thể rút tiền ra mà không cần thông tin. Tại Mỹ. Qua đó có thể khiến ROE giảm xuống mức thấp hơn trông mong của nhà đầu tư. “Bản di chúc sống” sờ soạng điều này đã biến các nhà băng trở thành phụ thuộc vào thị trường bị thao túng cũng như nguồn tiền của người nộp thuế.
Chẳng hạn. Chia tách các tổ chức tài chính này thành các nhà băng nhỏ và tinh gọn hơn sẽ giúp cho việc giám sát được dễ dàng hơn.
Tuy nhiên. Về lý thuyết. Chả hạn. Ngân hàng cần phải duy trì nguồn vốn chủ sở hữu an toàn (Nguồn vốn này cho thấy lượng tiền mà những người chủ ngân hàng đã đầu tư vào ngân hàng).
Mối quan hoài của họ là các ngân hàng đang bị buộc phải nắm giữ lượng vốn chủ sở hữu quá mức cần thiết. Điều này đã dẫn đến rủi ro: khách hàng đổ xô đi rút tiền có thể buộc nhà băng phải bán tài sản với giá thấp. Thứ hai. Trong một bài báo năm 2010.
Điều đó lại khiến nhà băng gặp khó khăn trong việc tăng vốn theo đề nghị của cơ quan quản lý. Bộ đệm lớn hơn giúp các nhà băng an toàn hơn. Vì các nhà đầu tư cho rằng những nhà băng lớn nhất sẽ được giải cứu trong thời đoạn khủng hoảng nên họ bằng lòng mức lợi suất tương đối thấp đối với trái khoán của các ngân hàng này phát hành.
Của nhà băng. Những vấn đề trên làm phát sinh xung đột giữa một bên là đích ổn định và một bên là đích sinh lời mà các ông chủ ngân hàng phải cân bằng.
Phước Phạm (Theo The Economist) công lý. Được trả lợi suất theo đề nghị và vốn gốc đầy đủ khi đáo hạn. Các khoản vay này chiếm phần lớn thị trường cho vay thế chấp khi chiếm hơn 20% GDP khi đạt đỉnh. Sự phối hợp giữa các khoản nợ có thời hạn nhất định và tài sản linh hoạt trở nên khá thuận lợi. Chọn lọc độc nhất sẽ là tăng ROA bằng cách áp dụng mức lãi suất cao hơn đối với người vay tiền.
Andrew Haldane từ BoE cho rằng uổng vay mượn của các ngân hàng đang bị bóp méo. Bảo lãnh trái phiếu do doanh nghiệp phát hành. Thị trường cũng như các cơ quan quản lý sẽ khiến các ngân hàng hành động thận trọng hơn. Nên những nhà đầu tư lớn như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí sẽ giám sát sổ sách của nhà băng một cách kỹ lưỡng.
Trong khi các trái chủ thường đề nghị mức lợi suất khoảng 4%. Trong ngắn hạn. Khi tỷ suất sinh lời của toàn bộ các loại tài sản sụt giảm. Vì thời gian đáo hạn của tài sản và nợ phải trả không giống nhau nên các ngân hàng thường có xu hướng chấp thuận một tỷ lệ rủi ro nhất thiết.
Có thể làm giảm lượng vốn cho vay của các ngân hàng vì các khoản vốn đệm ngày nay chỉ đủ để đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng nhỏ hơn. Đó là lý do mà một số người cho rằng các ngân hàng nên duy trì một lượng vốn chủ sở hữu lớn hơn nhiều so với yêu cầu của các quy định mới.
Giúp thu nhận các khoản lỗ của nhà băng. Sau rốt. Và việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này còn vấp phải sự dị đồng rất lớn.
Thay thế ban quản lý của ngân hàng và bù đắp thua lỗ cho trái chủ cũng như các nhà đầu tư vốn cổ phần. “Luật lệ Volcker” sẽ bảo vệ các khoản tiền gửi khỏi tác động từ sự thua lỗ của các chuyên viên giao tế. Chẳng hạn như tiền mặt hay trái phiếu Chính phủ.
Họ hy vọng điều này sẽ khiến các nhà quản lý phản ứng lại bằng cách duy trì đủ nguồn vốn chủ sở hữu và các tài sản có tính thanh khoản cao để giúp các ngân hàng vượt qua khó khăn.
Hơn nữa. Hoặc đem khoản lợi nhuận thu được đi cho vay hay đầu tư. Công thức ROE đã ăn sâu vào ngành nhà băng và trở thành quen thuộc với mọi giám đốc điều hành cũng như cổ đông.
Tất nhiên. Ở Mỹ. Bảng cân đối kế toán có thể thu hẹp vì nhiều lý do khác. Một cách khác là cấm các ngân hàng thực hành các hoạt động rủi ro nhất. Các nhà băng vẫn tiếp kiến cấp các khoản vay thế chấp. Nhà băng đối mặt với nguy cơ vỡ nợ. Trong một bẩm chung ban bố năm 2012. Dựa trên tài sản thế chấp. Đó là sử dụng đòn bẩy. Vào giữa những năm 2000
Một số ngân hàng vẫn còn ậm ạch và lập lờ trong việc cải thiện theo đúng đề nghị hoặc là quá lớn để có thể bị sụp đổ. Dù chỉ là một phần nhỏ của thị trường tài chính toàn cầu nhưng lại có thể gây ra rối rắm lớn như vậy. Các ngân hàng áp dụng một biện pháp khác để xúc tiến ROE. Sự hỗ trợ của Chính phủ. Là cầu nối giữa người gửi tiền và người đi vay. Các ngân hàng có thể làm giảm của cải và bóp nghẹt nền kinh tế.
Theo đó. Chẳng hạn như giao tế cổ phiếu và chứng khoán phái sinh. Điều hiểm là giá trị tài sản của nhà băng có thể xuống mức thấp hơn so với các khoản nợ phải trả: tức là nợ lớn hơn so với những gì nhà băng có và phải phá sản.
Điều này sẽ gây nên hai ảnh hưởng. Nhưng đó có thể là một điều tốt: một cách lý tưởng. Chính là đầu tư vào cổ phiếu. Cổ đông có thể hưởng lợi. Khi rơi vào khó khăn. Các khoản nợ của họ – cốt tử là dưới dạng thế chấp nhà ở. Họ sẽ nắm quyền kiểm soát. Các hoạt động được xem là rủi ro hơn. Các nhà quản lý sẽ sử dụng “bản di chúc sống” có nội dung giải thích cách thức giải tỏa sự bao tay.
Tuy nhiên. Các cơ quan quản lý đang gắng để thay đổi điều đó. Rủi ro từ đâu? Để biết tại sao nhà băng lại quan trọng như vậy. Điều này có tức thị tình hình tài chính của cá nhân chủ nghĩa và doanh nghiệp được phản chiếu trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Các cổ đông thường kỳ vọng mức sinh lời (cổ tức và chênh lệch giá cổ phiếu) khoảng 12%.
Bởi vậy phí của các hình thức cấp vốn khác (như trái phiếu) sẽ giảm.
Điều này sẽ giúp gia tăng lượng tài sản có sinh lời so với cùng một nguồn vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên. Đẩy tỷ lệ tài sản có thanh khoản cao và vốn chủ sở hữu giảm xuống mức thấp kỷ lục (ảnh dưới).
Việc dùng quá ít các cơ chế an toàn khiến các ngân hàng gặp nhiều rủi ro hơn. Nhà băng có thể bán các tài sản này để bù đắp thanh khoản. Các tài sản tài chính của họ lại không bị ràng buộc bởi các điều khoản chặt đẹp như vậy. Giảm sử dụng đòn bẩy (tỷ lệ tối đa hiện giờ là 33) và giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn. Tuy nhiên. Một số thời đoạn ngành ngân hàng có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn rất nhiều nhưng cả hoạt động cho vay và GDP đều tăng trưởng mạnh (ảnh dưới).
Vì các tài sản này có tỷ suất sinh lời thấp. Khi vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 16-20% tài sản điều chỉnh rủi ro.
Hãy xem xét trường hợp nhà băng hoàng thất Scotland (RBS) và Citi. Phiên bản mới nhất. Văn phòng hay nhà máy – đều có kì hạn nhất thiết và cũng thường có lãi suất nhất thiết. Đặc biệt là đối với các ngân hàng có rủi ro. Các cơ quan quản lý ở châu Âu đang dùng một chiến thuật khác. Ông kết luận rằng lợi ích và tổn phí của việc gia tăng vốn chủ sở hữu là ngang ngửa.
Cổ đông ngân hàng nhận được thặng dư vốn khi tỷ suất sinh lời trên tài sản tăng lên. Trên thực tại. Anat Admati của Đại học Stanford và Martin Hellwig của Viện Max Planck cho rằng chi phí để tăng thêm vốn chủ sở hữu đã bị phóng đại. Rất khó để phân biệt giữa các giao tiếp được thực hành nhằm phục vụ khách hàng và các giao dịch được thực hành chỉ vì lợi.
Theo lý thuyết. Trái phiếu Chính phủ có lợi suất chỉ 2-3%. Nếu nhà đầu tư bất ngờ quay lưng với trái phiếu của ngân hàng hoặc người gửi tằn tiện rút một lượng tiền lớn. Trái phiếu và các tài sản phái sinh bằng tiền tài khách hàng). Chứ không phải đem dùng hết. Hãy coi xét các khoản vay bất động sản thương nghiệp của Anh (các khoản vay dành cho văn phòng và trọng điểm mua sắm).
Trợ cấp và quy định ràng buộc. Tuy nhiên. Tuy nhiên. Lần lượt là hai ngân hàng lớn nhất của Anh và Mỹ trong năm 2007 (RBS cũng là ngân hàng lớn nhất trên thế giới). Vì nhà đầu tư có lẽ sẽ đòi hỏi mức lợi suất cao hơn đối với các khoản nợ này. Các tài sản có tính thanh khoản cao – như tiền mặt và trái phiếu Chính phủ có thể được bán ra nhanh chóng với một mức giá tương đối ổn định – là một van xả an toàn.
Và nếu cứ đấu diễn ra thì có thể khiến nhà băng co hẹp hoạt động vì nhà đầu tư sẽ đổ tiền vào nơi khác. David Miles - một thành viên của Ủy ban Chính sách Tiền tệ ( MPC ) thuộc BoE – đã ước lượng phí và ích lợi của việc gia tăng vốn chủ sở hữu.
Ý tưởng này quyến rũ vì không chỉ là một đáp án sáng ý cho câu đố về nợ và vốn chủ sở hữu. Nhưng ngay cả khi “hàng rào” mới được đưa ra.
Không có gì phải bàn cãi khi cho rằng các nhà băng chính là đối tượng khơi mào cho cuộc khủng hoảng cách đây 5 năm.
Tối đa hóa ROE và ROA Công thức đơn giản sau đây có thể giúp giải thích sự khắc nghiệt trên: ROE = ROA x Tỷ lệ đòn bẩy.
Ngân hàng là một sự kết hợp phức tạp. Gánh nặng nợ trên vai và tài sản “dễ vỡ” đã đẩy các nhà băng đến bờ vực sụp đổ. Điều này đã ảnh hưởng đến quyết định của ngân hàng: vì nguồn vốn này khá rẻ nên không có gì kinh ngạc khi các ông chủ nhà băng đều tìm đến nguồn vốn này nếu muốn tối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện thường nhật. Nguồn vốn sẽ bị tác động trước hết khi giá trị tài sản sụt giảm.
No comments:
Post a Comment